Hiển thị các bài đăng có nhãn Thị Trường Lúa Gạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thị Trường Lúa Gạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 8, 2017

Cà phê hôm nay giảm nhẹ, giá cao su TOCOM bật tăng trở lại

Tổng hợp tin thị trường nông sản hôm nay (30/8), giá cà phê nguyên liệu tại nhiều điểm thu mua giảm 100 đồng/kg. Trong khi đó, giá cao su TOCOM đảo chiều, tăng trở lại nhờ sự phục hồi của đồng USD. Cùng với đó là giá hồ tiêu hôm nay vẫn ở mức ổn định.

Giá hồ tiêu tiếp tục chuỗi ngày đi ngang

Giá hồ tiêu nguyên liệu thu mua trong sáng nay duy trì không đổi tại tất cả các điểm thu mua
Giá thu mua hồ tiêu hiện nằm trong khoảng 86.000 – 89.000 đồng/kg.


Giá cà phê hôm nay giảm nhẹ tại nhiều tỉnh thành

Thương lái thu mau cà phê nguyên liệu tại Tây Nguyên giảm giá 100 đồng/kg tại nhiều địa điểm thu mua. Tỉnh Lâm Đồng và huyện Buôn Hồ (Đắk Lắk) là những nơi không điều chỉnh giá thu mua so với ngày hôm qua.
Hiện, giá giao dịch nằm trong khoảng 44.800 – 45.500 đồng/kg.


Cụ thể, giá robusta giao tháng 9 giảm 4 USD xuống 2.146 USD/tấn, giá arabica giao cùng kỳ giảm 2,6 USD cent xuống 127,3 USD cent/pound.Trên thị trường thế giới, giá robusta và arabica đồng loạt giảm trong phiên giao dịch ngày hôm qua.
Hôm thứ Ba, Tổng cục Thống kê Việt Nam cho biết xuất khẩu cà phê của quốc gia sẽ giảm khoảng 19,4% trong 8 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái. Giá cà phê robusta giao tháng 11 đã có phản ứng nhẹ với thông tin, và chỉ tăng 0,3%.
Theo các chuyên gia phân tích, phản ứng này có thể là do các thành phần tham gia vào thị trường đã đặt cược vào khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm. Thị trường cà phê robusta đã trong tình trạng nguồn cung thắt chặt trong một vài mùa sau khi hạn hán ảnh hưởng tới mùa vụ robusta trên toàn thế giới. Vì vậy, xuất khẩu giảm không phải là một thông tin mới.
Giá arabica giao tương lai đang tìm kiếm đà phục hồi sau khi chạm đấy 5 tuần vì áp lực bán tháo. Tuy nhiên, nhìn chung cà phê arabica đã có sự thể hiện khá tốt trong mùa hè này với các nhà đầu tư đều có cái nhìn tích cực khi mùa vụ arabica của Brazil bị đe dọa bởi thời tiết và sâu bệnh.
Thời gian thu hoạch đối với mùa vụ cà phê arabica của Brazil sắp đến và giá của mặt hàng này sẽ tiếp tục bị áp lực trong thời điểm này cho đến khi sản lượng mùa vụ được đưa ra.


Cụ thể giá hợp đồng cao su TOCOM giao tháng 2 tăng 1 yen lên 216,5 yen/kg vào lúc 11h15 (giờ Việt Nam).Trên thị trường cao su, giá cao su TOCOM giao tháng 2 phục hồi từ đáy 1 tuần nhờ đồng USD tăng từ mức thấp nhất trong 4,5 tháng so với yen Nhật.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

Lũ lụt không gây ảnh hưởng nhiều tới nông nghiệp Thái Lan

Vừa qua do mưa lớn kéo dài đã gây lũ lụt trên diện rộng ảnh hưởng trực tiếp tới hơn 160.000 ha diện tích lúa của Thái Lan. dù bị tàn phá nặng nề do bão nhưng sản lượng và xuất khẩu gạo của Thái Lan trong năm nay vẫn không hề suy giảm.




NGÀNH GẠO THÁI LAN SẼ KHÔNG BỊ THIỆT HẠI LỚN DÙ VỪA TRẢI QUA ĐỢT LŨ NGHIÊM TRỌNG

Mặc dù Thái Lan vẫn mất một phần diện tích lúa trong đợt lũ lụt vừa qua, nhưng sản lượng thóc năm 2017 của Thái Lan dự báo sẽ không đổi là 28 – 30 triệu tấn (tương đương khoảng 18 triệu tấn gạo đã tách vỏ). Số lượng này sẽ đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài, Bộ Nông nghiệp Thái Lan cho biết.
Ông Chookiat Ophaswongse, Chủ tịch danh dự của Hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Thái Lan (TREA) cũng cho rằng, thời điểm thu hoạch vụ lúa chính có thể bị chậm hơn một chút so với thường lệ vì trận lũ vừa qua, nhưng sẽ không gây ảnh hưởng lớn đến triển vọng sản lượng, giá cả cũng như hoạt động xuất khẩu gạo của Thái Lan. Vụ lúa chính tại Thái Lan thường được thu hoạch từ cuối tháng 10.
“Trận lũ vừa qua sẽ ảnh hưởng tới sản lượng gạo nếp, được trồng chủ yếu ở khu vực đông bắc Thái Lan nhưng sẽ không ảnh hưởng tới xuất khẩu gạo nói chung,” ông Chookiat nói. Gạo nếp chiếm 10 – 20% tổng sản lượng gạo cả nước của Thái Lan.
Giá gạo nếp theo đó sẽ tăng nhẹ vì nguồn cung bị thiếu hụt. Tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm áp lực lên giá cả trong thời kỳ thu hoạch sau đó, Theo ông Wichai Phochanakij, Phó Bộ trưởng Thương mại Thái Lan.

GIÁ GẠO THÁI LAN TĂNG GIÁ VÌ ĐÂU?

Theo ông Chookiat, yếu tố tiêu cực lớn nhất hiện nay với hoạt động xuất khẩu gạo là đồng baht tăng giá. Baht tăng giá khiến giá gạo Thái Lan kém cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên cả ông Chookia và TREA đều giữ nguyên dự báo xuất khẩu gạo năm 2017 của Thái Lan là 10 triệu tấn.
Ngoài yếu tố tiền tệ, giá gạo Thái Lan dự báo sẽ tiếp tục tăng vì nguồn cung giảm nhẹ do trận lũ lụt vừa qua trong khi nhu cầu tiêu thụ gạo của thế giới vẫn rất lớn, một quan chức trong ngành nhận định.
Trong thời kỳ xảy ra lũ lụt, giá lúa nội địa của Thái Lan đã tăng 5% lên 7.600 baht/tấn. Kết quả là, giá gạo trắng loại thường của Thái Lan (giá FOB) cũng tăng lên 390 USD/tấn, cao hơn nhiều so với mức giá chào bán 340 USD/tấn của các nước xuất khẩu gạo lớn khác như Ấn Độ, Việt Nam và Pakistan.
Trong vài tuần qua, tỉnh Sakon Nakhon phải hứng chịu đợt lũ lụt nghiêm trọng nhất trong 20 năm trở lại đây, do áp thấp nhiệt đới Sonca gây ra. Kết quả là, sân bay Sakon Nakhon phải ngừng hoạt động, toàn tỉnh cũng như các khu vực nông nghiệp chìm trong biển nước.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2017

Việt nam định hướng nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu

Nhằm từng bước xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam chất lượng cao.Thủ tướng  chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược Phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam định hướng đến năm 2030. Qua đó để duy trì đà tăng trưởng XK gạo và đạt mục tiêu chiến lược đề ra, ngành lúa gạo sẽ phải tổ chức lại sản xuất,

>> Tin tổng hợp:



Có bước chuyển tốt nhưng vẫn bấp bênh
Theo số liệu thống kê, 6 tháng đầu năm 2017, XK gạo của cả nước đạt 2,8 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,2 tỷ USD, tăng 3% về sản lượng và tăng 4,9% về giá trị so với cùng kỳ. Dù tình hình XK gạo có chiều hướng tăng trưởng, nhưng điều dễ nhận thấy là sự bấp bênh trong XK của mặt hàng này. Cụ thể, theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), trong tháng 4, giá gạo XK bình quân của nước ta giảm gần 20 USD/tấn; tháng 5 cũng giảm 11,83 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2016. Ðầu tháng 5-2017, giá gạo 5% tấm của Việt Nam chào bán chỉ ở mức 350 đến 354USD/tấn thì gạo Thái Lan đã ở mức 390USD/tấn; gạo Ấn Ðộ đạt 388USD/tấn; gạo Pakistan dao động ở mức 408 đến 412USD/tấn. Phải đến đầu tháng 6-2017, giá gạo XK của nước ta mới thật sự tăng khi gạo XK loại 5% tấm là 390USD/tấn và đây là mức giá cao nhất kể từ tháng 12-2014.
Theo nhận định của các chuyên gia thì mức tăng trưởng của lúa gạo XK chủ yếu dựa vào sản lượng. Trong tháng 6, tuy giá gạo thế giới có nhích lên, nhưng do giá gạo Việt Nam vẫn ở mức thấp hơn so với một số quốc gia XK khác, nên được các đối tác tìm mua nhiều hơn. Vì vậy XK gạo của nước ta mới có chiều hướng tăng. Bàn luận điều này, ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty TNHH Trung An (TP Cần Thơ), cho biết: “Trong phiên đấu thầu nhập khẩu 250.000 tấn gạo 25% tấm của Philippines, chúng ta trúng thầu. Điều này tác động tốt đến thị trường lúa gạo Việt Nam trong thời gian tới. Tuy vậy, phần lớn giá gạo XK theo các hợp đồng tập trung đã ký đều thấp hơn so với giá thị trường nên tính hiệu quả của toàn ngành không cao. Mặt khác, nếu giá lúa gạo nội địa “bật” lên quá cao thì khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam ở các hợp đồng thương mại sẽ kém hẳn”.
Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ: Gạo của ta từ trước đến nay vẫn chỉ đóng bao và mang nhãn hàng của doanh nghiệp hay quốc gia nhập khẩu. Vì vậy, có rất nhiều trường hợp gạo được sản xuất trong nước nhưng lại sử dụng bao bì nước ngoài và được bày bán trong các trung tâm thương mại. Đây là điều bất công và thiệt thòi lớn cho ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam. Việt Nam luôn tự hào là quốc gia XK lúa gạo lớn nhất nhì thế giới mà không biết rằng sự bấp bênh của sản lượng và giá trị là quá lớn. "Nguyên nhân giá trị hạt gạo của ta thấp là do chúng ta chưa chủ động trước những biến động nhanh chóng của thị trường”-ông Hiệp phân tích.
Thực tế, dù có thời gian dài tham gia thị trường XK nhưng đến nay, hầu hết người tiêu dùng chỉ biết đến gạo trắng và phân chia theo tỷ lệ tấm, mà chưa có thương hiệu gạo mang tên "Việt Nam". Ngay cả thị trường trong nước, gạo nội vẫn bị đánh giá thấp hơn nhiều so với gạo nhập khẩu từ Thái Lan hoặc Campuchia...

Định vị thương hiệu gạo Việt từ chất lượngTheo chiến lược phát triển gạo Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2020, lượng gạo XK đạt khoảng 4,5-5 triệu tấn, trị giá bình quân khoảng từ 2,2 đến 2,3 tỷ USD/năm. Giai đoạn 2021-2030, lượng gạo XK hằng năm khoảng 4 triệu tấn, trị giá xuất khẩu đạt 2,3-2,5 tỷ USD/năm. Chiến lược cũng xác định: Đến năm 2020, tỷ trọng gạo trắng phẩm cấp thấp và trung bình không vượt quá 20% tổng sản lượng gạo XK, gạo trắng phẩm cấp cao chiếm khoảng 25%; tỷ trọng gạo thơm, gạo đặc sản, gạo Japonica chiếm khoảng 30%, gạo nếp chiếm khoảng 20%. Các sản phẩm gạo có giá trị tăng cao như gạo dinh dưỡng, gạo hữu cơ, bột gạo, sản phẩm chế biến từ gạo chiếm khoảng 5%. Bên cạnh đó, tăng tỷ lệ gạo XK trực tiếp và mang thương hiệu Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, theo các chuyên gia, ngoài việc phản ứng nhanh với những biến động trên thị trường lúa gạo thế giới, thì cũng phải nắm rõ tình hình sản xuất lúa gạo trong nước, để từ đó có thể điều hành thu mua và XK có lợi cho cả nông dân và doanh nghiệp. Riêng vấn đề xây dựng thương hiệu, theo TS Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), muốn xây dựng thương hiệu gạo trước hết phải khẳng định chất lượng giống. “Tại Thái Lan thương hiệu gạo quốc gia chỉ áp dụng cho 2 giống lúa KDML 105 và RD 15 hay Ấn Độ là nhóm Basmati. Còn ở nước ta, chỉ tính riêng ĐBSCL đã có hơn 100 giống lúa đang lưu hành; đồng thời có từ 15 đến 20 giống mới được xác nhận đưa vào sản xuất hằng năm. Như vậy không thể quản lý được thương hiệu với quá nhiều loại giống. Trong khi đó, chất lượng đầu vào là hạt giống không bảo đảm sẽ dẫn đến chất lượng gạo thấp, không khẳng định được hạt gạo Việt Nam trên thị trường xuất khẩu”-TS Trần Ngọc Thạch, cho biết.
Bàn giải pháp xây dựng thương hiệu gạo Việt, ông Huỳnh Trung Trứ, Phó giám đốc Sở Công Thương TP Cần Thơ cho rằng: “Một trong những biện pháp nâng cao giá trị của gạo XK là liên kết nông dân và doanh nghiệp định hướng sản xuất theo chuỗi để có thể kiểm soát quá trình sản xuất, chế biến, XK. Để xây dựng thương hiệu gạo Việt nên chọn lựa một loại giống riêng biệt. Ngoài giống ST Sóc Trăng có thể chọn lựa thêm giống lúa jasmine (giống thuần chủng). Bởi giống lúa này cho ra hạt gạo chất lượng cao, hạt dài, dẻo, thơm, tỷ lệ phần trăm tấm 5% đạt tiêu chuẩn chất lượng, thời gian canh tác ngắn ngày và cho năng suất cao. Với hai yếu tố là chất lượng cao, có thể sản xuất quy mô lớn và ổn định thời gian dài, theo tôi, giống lúa jasmine thích hợp nhất để xây dựng thương hiệu gạo Việt”.
Muốn xây dựng thương hiệu gạo Việt bằng cách chọn ra giống chất lượng, theo PGS, TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, Nhà nước cần tổ chức bình tuyển các giống lúa ở từng vùng để chọn ra loại ngon nhất. Chẳng hạn, trong hơn 20 dòng của giống ST đặc sản sẽ tìm ra dòng tốt nhất để sản xuất giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận cung cấp cho nông dân. Khi đã chọn được giống, doanh nghiệp phải ký hợp đồng với hợp tác xã, cung cấp giống cho nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn GAP. “Mỗi cánh đồng vài trăm héc-ta chỉ gieo trồng một loại giống. Doanh nghiệp phải cử kỹ sư nông nghiệp theo suốt quá trình sản xuất, bảo đảm sản phẩm đầu vào cho đến đầu ra là gạo đóng gói XK đồng nhất về chủng loại và chất lượng, không có gạo khác lẫn vào. Có được sản phẩm chất lượng, doanh nghiệp yên tâm đăng ký nhãn hiệu, quảng bá, tiếp thị ra nước ngoài. Với quy trình này, doanh nghiệp nào làm ăn gian dối sẽ tự bị đào thải”- PGS, TS Võ Tòng Xuân, đề xuất.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Thị trường xuất khẩu gạo Ấn Độ đang gặp khó khăn

Ấn Độ bị bão lụt gây thiệt hại nặng nề về kinh tế làm khiến nhu cầu gạo cung cấp trong nước tăng cao làm giá xuất khẩu gạo của Ấn Độ quá đắt; đồng nghĩa với cơ hội đối với Việt Nam, Thái Lan, Campuchia giành thị phần thị trường.

>> Tin tổng hợp:

Xuất khẩu gạo non-basmati của Ấn Độ có khả năng giảm trong vài tháng tới, khi giá xuất khẩu ngũ cốc trở nên quá đắt trên thị trường thế giới, do đồng ruppe tăng mạnh và giá lúa gạo thị trường nội địa tăng.
Xuất khẩu gạo từ nước xuất khẩu lớn nhất thế giới - Ấn Độ - sẽ tạo cơ hội cho các đối thủ Việt Nam, Thái Lan và Campuchia tăng thị phần trên thị trường toàn cầu.
“Gạo có xuất xứ khác có giá rẻ hơn so với Ấn Độ. Điều này khiến xuất khẩu gạo của Ấn Độ suy giảm”, Nitin Gupta, người đứng dầu kinh doanh gạo tại Olam Ấn Độ cho biết.
Trong tuần này, giá gạo parboiled 5% tấm Ấn Độ ở mức 410 USD/tấn, FOB từ cảng Kakinada ở bờ biển phía đông.
So với gạo Thái ở mức 390-392 USD/tấn và giá gạo Việt Nam ở mức 400-405 USD/tấn.
“Do đồng rupee ở mức cao, chúng tôi không thể so với mức giá chào ở Việt Nam hoặc Thái Lan”, M. Adishankar, giám đốc điều hành tại Sri Lalitha, nhà xuất khẩu hàng đầu tại Kakinada cho biết.
Đồng rupee tăng hơn 6,5% trong năm 2017, đạt mức cao nhất trong hơn 2 năm. Một đồng rupee tăng mạnh mẽ điều đó có nghĩa là, các nhà xuất khẩu gạo phải nâng giá xuất khẩu bằng đồng đô la Mỹ, để trang trải hoạt động mua vào và chi phí khác của họ.
Các khách mua gạo chủ yếu của Ấn Độ tại châu Phi như Benin, Senegal và Guinea không bằng lòng mua ở mức hiện tại, Adishankar cho biết.
Tháng trước, do giá gạo Ấn Độ tăng cao, Bangladesh đã ngừng ký hợp đồng – nước cần nhập khẩu gạo để bổ sung dự trữ, chịu ảnh hưởng bởi lũ lụt.
Sau khi thỏa thuận với Ấn Độ bị hủy bỏ, Bangladesh đã thỏa thuận sẽ mua 1 triệu tấn gạo từ Campuchia.
Tại Ấn Độ, giá lúa gạo vẫn tăng, do hầu hết nguồn cung từ vụ đông đã được tiêu thụ hết.
“Đến tận khi vụ thu hoạch mùa hè mới bắt đầu từ tháng 10, nguồn cung lúa gạo sẽ vẫn thắt chặt”, nhà xuất khẩu có trụ sở tại Kakinada cho biết.
Ấn Độ đã trồng 28 triệu ha lúa gạo tính đến 4/8, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng mưa tại khu vực các bang phía nam giảm, dấy lên mối lo ngại về vụ thu hoạch. “Nếu giá gạo Ấn Độ giảm, chúng ta có thể dự đoán nhu cầu từ thị trường Tây Phi từ tháng 10 cho đến lễ Giáng sinh sẽ gia tăng”, Gupta of Olam Ấn Độ cho biết.
“Giá gạo nên giảm 10 đến 15 USD/tấn để trở nên cạnh tranh”.

Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Việt Nam sẽ xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu tới Mông Cổ

Việt Nam tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu sang Mông Cổ các mặt hàng nông thủy sản, thực phẩm chế biến như: lúa gạo, chè, cà phê, bánh kẹo, quả tươi...

>> Tin tổng hợp:

Đoàn đại biểu Việt Nam do Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường, Chủ tịch Phân ban Việt Nam trong UBLCP Việt Nam –Mông Cổ làm trưởng đoàn. Đoàn đại biểu Mông Cổ do Bộ trưởng Bộ Lương thực, Nông nghiệp và Công nghiệp nhẹ Sergelen Purev, Chủ tịch Phân ban Mông Cổ trong UBLCP làm Trưởng đoàn.
Kỳ họp 16 đã diễn ra trong bầu không khí hữu nghị và cởi mở. Sau khi rà soát những hoạt động hợp tác trong thời gian qua (giữa hai Kỳ họp), hai bên đã thống nhất định hướng hợp tác và thảo luận các biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác, đưa các hợp tác đi vào thực chất, đáp ứng yêu cầu của Chính phủ 2 nước.
Trong thời gian tới, hai bên sẽ hợp tác chặt chẽ, đưa ra những biện pháp cụ thể, có tính khả thi để thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương, đồng thời khuyến khích sự hợp tác phát triển của cộng đồng doanh nghiệp hai nước, tăng cường xuất khẩu sang thị trường của nhau những mặt hàng có thế mạnh và bổ trợ cho nhau.
Mông Cổ mong muốn xuất khẩu sang Việt Nam các sản phẩm thịt chế biến, đông lạnh (thịt dê, cừu, ngựa), nguyên phụ liệu dệt may (da, lông, len), sản phẩm da, khoáng sản, bột thịt xương, quả đông lạnh (hắc mai biển, việt quất).
Việt Nam tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu sang Mông Cổ các mặt hàng nông thủy sản, thực phẩm chế biến như: gạo, chè, cà phê, bánh kẹo, quả tươi (thanh long, nhãn, sầu riêng, măng cụt, vải, xoài, chanh leo, dừa, chuối…), quả chế biến, nước trái cây đóng hộp, thịt lợn, thịt gà, trứng gia cầm, thuốc thú y, vắc-xin, mật ong, thủy sản, các loại đồ uống, hàng tiêu dùng, hàng dệt may, máy móc, thiết bị dân dụng.
Hai bên nhất trí xây dựng cơ chế đối thoại chính sách, trao đổi thông tin và duy trì các hoạt động giao thương kết nối doanh nghiệp hai nước. Phía Mông Cổ sẽ thông tin cho Việt Nam về những cơ hội, quy định, thủ tục và ưu đãi khi đầu tư vào Mông Cổ; Phía Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm, bài học trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp. Hai bên nhất trí khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hai nước tham gia các hội chợ triển lãm chuyên ngành, chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư và chia sẻ kiến thức, kỹ năng hoạt động doanh nghiệp.
Hai bên nghiên cứu thúc đẩy việc mở đường hàng không trực tiếp cả hai chiều giữa Hà Nội và U-lan-ba-to thông qua các chuyến bay thuê chuyến; thảo luận về triển khai mở rộng logistics đối với vận tải hàng hóa; tăng cường hợp tác giao lưu nhân dân, tuyên truyền, văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, thể thao;
Nhân dịp này, Trưởng đoàn Việt Nam đã đến chào xã giao Thủ tướng Mông Cổ Ngài Jargaltulgyn Erdenebat. Thủ tướng Mông Cổ đánh giá cao tầm quan trọng của Kỳ họp UBLCP 16, trong bối cảnh Việt Nam và Mông Cổ đang nỗ lực củng cố, thúc đẩy, phát triển mối quan hệ truyền thống hữu nghị gắn bó đã được thiết lập chính thức từ năm 1954. Đến nay, hai nước đã 3 lần ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác (1961, 1979, 2000) và khoảng 20 Hiệp định mới về hợp tác kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật và các lĩnh vực khác. Hai nước đã công nhận nhau là kinh tế thị trường đầy đủ từ năm 2013. Đặc biệt, các chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao hai Bên trong những năm gần đây đã góp phần thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Thứ Hai, 21 tháng 8, 2017

Xuất khẩu gạo Việt Nam đang có dấu hiệu khởi sắc trở lại

Hiện nay giá lúa gạo trong nước đang tăng lên. Nguyên nhân chủ yếu là do thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đang có dấu hiệu khởi sắc trở lại.




NHU CẦU CÓ TĂNG NHƯNG THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI KHÔNG THAY ĐỔI ĐỘT BIẾN

Thay vì chỉ đạt khoảng 40-41 triệu tấn như các dự báo trước đó, liên tiếp trong ba tháng vừa qua, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã nâng dự báo xuất khẩu gạo thế giới năm nay lên 42,5 triệu tấn.
Hai tác nhân chủ yếu khiến thị trường xuất khẩu gạo thoát khỏi tình trạng trì trệ là nhu cầu nhập khẩu của Bangladesh tăng đột biến, đạt 700.000 tấn, và quốc gia bạn hàng nhập khẩu gạo truyền thống của nước ta là Philippines tăng 400.000 tấn, đạt 1,8 triệu tấn.
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) cũng cho rằng, nhập khẩu gạo của thế giới năm nay tăng 2,8 triệu tấn. Trong đó, hai tác nhân chủ yếu nói trên lần lượt tăng 900.000 tấn và 800.000 tấn.
Cho dù vậy, xét trên tổng thể, thị trường gạo thế giới năm nay và năm 2018 không có đột biến theo chiều hướng có lợi cho các quốc gia xuất khẩu mà nghiêng về phía các quốc gia nhập khẩu.
Trước hết, theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, thay vì có gần 160 triệu héc ta như trong năm 2016, diện tích lúa của thế giới năm nay sẽ tăng lên hơn 160 triệu héc ta và năm 2018 sẽ tiếp tục tăng lên gần 162 triệu héc ta. Đây chính là lý do chủ yếu khiến sản lượng lúa thế giới năm nay tăng mạnh hơn 18 triệu tấn, đạt kỷ lục mới gần 722 triệu tấn và năm 2018 cũng gần tương tự.
Bộ Nông nghiệp Mỹ và FAO đều cho rằng trong năm nay, sản lượng lúa gạo của cả hai đối thủ cạnh tranh chủ yếu của nước ta là Ấn Độ và Thái Lan sẽ tăng, tổng cộng tăng gần 9 triệu tấn và 6,3 triệu tấn. Trong điều kiện được mùa như vậy, mặc dù tiêu dùng gạo thế giới trong năm nay tăng mạnh 10 triệu tấn, nhưng kho gạo dự trữ thế giới vẫn đạt 90 ngày tiêu dùng, còn năm 2018 sẽ tăng lên 93 ngày. Đây là mức dự trữ cao gấp rưỡi so với những năm sốt nóng giá gạo thế giới hồi giữa thập kỷ trước.
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, tuy nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng, nhưng mức tăng không nhiều, còn câu chuyện nguồn cung gạo trên thị trường thế giới bị thắt chặt được tuyên truyền khá rầm rộ trên không ít phương tiện truyền thông ở nước ta trong thời gian qua là thiếu cơ sở.

GIÁ ĐẦU VÀO TĂNG TRONG KHI GIÁ ĐẦU RA SẼ GIẢM

Có thể nói, trong bối cảnh hết sức ảm đạm những tháng đầu năm, việc nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng trong những tháng gần đây, đặc biệt là nhu cầu của Bangladesh và Philippines, là liều thuốc kích thích đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu gạo của nước ta hiện nay, bởi chúng ta chiếm thị phần không hề nhỏ.
Cụ thể, trong gói thầu 250.000 tấn của Philippines, các doanh nghiệp của nước ta đã giành được 170.000 tấn; còn trong tổng khối lượng nhập khẩu gạo của Bangladesh được đánh giá khoảng 700.000-900.000 tấn, chúng ta đã “chắc suất” 250.000 tấn.
Không những vậy, gần như chắc chắn Philippines sẽ còn phải nhập khẩu thêm gạo trong những tháng tới. Bởi lẽ, trong khi dự trữ gạo hiện nay đang quá mỏng, nước này có nghĩa vụ nhập khẩu hơn 800.000 tấn gạo theo cam kết với WTO. Trong đó, chúng ta “có phần” gần 300.000 tấn.
Cho dù vậy, có hai căn cứ chủ yếu sau đây để cho rằng xuất khẩu gạo của nước ta trong những tháng cuối năm nay sẽ lại khó khăn:
Thứ nhất, theo số liệu thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nếu như trong tháng 7-2016, giá lúa thường ở vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ ở mức 5.150 đồng/ki lô gam, giá gạo nguyên liệu 5% tấm ổn định ở mức 6.850 đồng/ki lô gam, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 445 đô la Mỹ/tấn thì cùng kỳ năm nay, “bộ ba” giá này đã là 5.483 đồng/ki lô gam, 7.483 đồng/ ki lô gam và 431 đô la Mỹ/tấn.
Trong điều kiện giá đầu vào tăng rất đáng kể như vậy, còn giá đầu ra xuất khẩu lại giảm đáng kể như vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tới.
Thứ hai, như đã nói ở trên, năm nay thế giới được mùa, sản lượng lúa gạo đạt kỷ lục mới. Vì vậy, nguồn cung gạo trên thị trường thế giới dồi dào, kho gạo dự trữ của thế giới cũng dồi dào. Trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo thế giới tăng không nhiều, khả năng giá gạo thế giới duy trì ở mức cao như trong quí 2 vừa qua là điều khó xảy ra.
Bên cạnh đó, lưu ý rằng Ấn Độ đang phải trả giá cho việc tăng giá gạo xuất khẩu của mình. Khi giá gạo non-basmati xuất khẩu bình quân trong quí 1 ở mức 361 đô la Mỹ/tấn, Ấn Độ xuất khẩu bình quân đạt 810.000 tấn; còn trong quí 2, khi giá xuất khẩu tăng mạnh lên 406 đô la Mỹ/tấn thì khối lượng xuất khẩu giảm mạnh xuống chỉ còn 700.000 tấn. Đáng lưu ý, nguyên nhân của việc giá gạo xuất khẩu tăng mạnh như vậy không phải là do nguồn cung bị thắt chặt, bởi nước này vẫn được mùa, mà chủ yếu do đồng rupee của nước này tăng quá mạnh.
Đồng baht của Thái Lan cũng tăng giá từ tháng 4 trở lại đây, và do vậy, cũng góp phần đẩy giá gạo xuất khẩu của nước này tăng. Nếu như giá gạo thường (tổng khối lượng gạo xuất khẩu trừ gạo Thai Hom Mali và gạo nếp) trong bốn tháng đầu năm nay dao động trong khoảng 362-372 đô la Mỹ/tấn thì trong hai tháng sau đó chỉ nhích một chút, lên 380-381 đô la Mỹ/tấn.
Dù vậy, giá xuất khẩu bình quân đối với tổng khối lượng 5,4 triệu tấn đã xuất trong nửa đầu năm nay của Thái Lan chỉ đạt 426 đô la Mỹ/tấn, giảm 13 đô la Mỹ so với cùng kỳ và thấp hơn đáng kể so với mức 445 đô la Mỹ/tấn trong cùng kỳ của nước ta.
Như vậy, dường như người Thái đã và đang hành động khác với thông điệp phát đi của hội nghị lúa gạo của Bộ Thương mại nước này là kho dự trữ gạo của chính phủ tiền nhiệm đã cạn, nguồn cung gạo thế giới đang bị thắt chặt, giá gạo thế giới sẽ tăng, nhưng riêng giá gạo của mình lại giảm.

Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2017

Tin nông sản xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2017



Bộ nông nghiệp vừa báo cáo kết quả  Xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2017 nông sản khác tăng 18% so với cùng kỳ năm 2016, ước đạt 10,89 tỷ USD.


>> Tin cùng chuyên mục:

  1. Xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng
  2. Sản lượng lúa gạo Trung Quốc 2013-2014 ước đạt 1 triệu tấn

Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
Lúa Gạo:
Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 465 nghìn tấn với giá trị đạt 201 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,3 triệu tấn và 1,5 tỷ USD, tăng 15,7% về khối lượng và tăng 13,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá gạo xuất khẩu bình quân 6 tháng năm 2017 đạt 444,6 USD/tấn, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng vị trí thứ nhất về thị trường nhập khẩu gạo của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với 43,6% thị phần.

Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 6 tháng đầu năm 2017 đạt 1,23 triệu tấn và 557 triệu USD, tăng 35,6% về khối lượng và tăng 33,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Philippin là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với 8,1% thị phần. Xuất khẩu gạo sang thị trường này trong 6 tháng đầu năm 2017 đạt 267,6 nghìn tấn và 103,8 triệu USD, tăng 38,4% về khối lượng và tăng 25,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Sáu tháng đầu năm 2017, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo giảm mạnh là Hồng Kông (-43,6%), Gana (-30,6%) và Irắc (-6,7%).

Cà phê:
Xuất khẩu cà phê tháng 7 năm 2017 ước đạt 106 nghìn tấn với giá trị đạt 242 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 937 nghìn tấn và 2,12 tỷ USD, giảm 16,4% về khối lượng nhưng tăng 7,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá cà phê xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 2.262,8 USD/tấn, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 với thị phần lần lượt là 16% và 14,3%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cà phê trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh

Chè:
Khối lượng xuất khẩu chè tháng 7 năm 2017 ước đạt 12 nghìn tấn với giá trị đạt 21 triệu USD, đưa khối lượng xuât khẩu chè 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 75 nghìn tấn và 118 triệu USD, tăng 13,1% về khối lượng và tăng 11,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá chè xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 1.543,8 USD/tấn, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan – thị trường lớn nhất của Việt Nam với 25,1% thị phần – giảm 17,1% về khối lượng và giảm 17,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Các thị trường có giá trị xuất khẩu chè trong 6 tháng đầu năm 2017 tăng mạnh là Ấn Độ (gấp 15,8 lần), Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (gấp 2,13 lần) và Đài Loan (+54,9%).

Hạt điều:
 
Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 34 nghìn tấn với giá trị 355 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 186 nghìn tấn và 1,83 tỷ USD, giảm 2,2% về khối lượng nhưng tăng 24,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá hạt điều xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt vẫn duy trì là 3 thị trường nhập khẩu điều lớn nhất của Việt Nam chiếm thị phần lần lượt là 36,9%, 15,1% và 12% tổng giá trị xuất khẩu hạt điều. Sáu tháng đầu năm 2017, các thị trường có giá trị xuất khẩu hạt điều tăng mạnh là Nga (69,5%), Hà Lan (38,7%), Hoa Kỳ (34%), Anh (23,1%), Israen (23%), Úc (17,7%), Trung Quốc (12,9%) và Thái Lan (12%).

Tiêu:
Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 7 năm 2017 ước đạt 19 nghìn tấn, với giá trị đạt 87 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 145 nghìn tấn và 800 triệu USD, tăng 20,4% về khối lượng nhưng giảm 18,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm 2017 đạt 5.662,6 USD/tấn, giảm 29,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017 là Hoa Kỳ, Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ , Pakistan và Đức với 39% thị phần.
Hàng rau quả:
Giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 7 năm 2017 ước đạt 360 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu hàng rau quả 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 2,03 tỷ USD, tăng 48,9% so với cùng kỳ năm 2016. Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hàn Quốc là 4 thị trường nhập khẩu hàng đầu của hàng rau quả Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017, chiếm 84,4% tổng giá trị xuất khẩu hàng rau quả.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, các thị trường có giá trị xuất khẩu hàng rau quả tăng mạnh là Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (82,3%), Nhật Bản (61,6%), Nga (54,9%), Trung Quốc (53,5%), Hoa Kỳ (28,6%), Đài Loan (18,9%), Hàn Quốc (12,3%) và Hà Lan (11,6%%).

Sắn và các sản phẩm từ sắn:
Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 7 năm 2017 ước đạt 255 nghìn tấn với giá trị đạt 62 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 7 tháng đầu năm 2017 ước đạt 2,28 triệu tấn và 565 triệu USD, giảm 1% về khối lượng và giảm 8,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 6 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 87,1% thị phần, giảm 2,4% về khối lượng và giảm 8,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 6 tháng đầu năm 2017, thị trường Nhật Bản có giá trị nhập khẩu sắn và các sản.

Thứ Năm, 17 tháng 8, 2017

Cập nhật giá lúa gạo ngày 17/8

Nông dân tại Đồng bằng sông Cửu Long vẫn diễn ra khẩn trương mùa Thu Đông, trong khi thị trường lúa gạo xuất khẩu vẫn đang diễn ra rất bế tắc do không đủ số lượng gạo cung cấp cho thị trường.


>> Tin cùng chuyên mục:

  1. Xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng
  2. Sản lượng lúa gạo Trung Quốc 2013-2014 ước đạt 1 triệu tấn



Thời tiết mưa nhiều khiến nông dân trồng lúa gặp nhiều khó khăn trong khâu thu hoạch và phơi lúa, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng và giá cả lúa Hè Thu 2015. Theo Hệ thống cung cấp giá tại địa phương, diễn biến giá lúa tại các tỉnh ĐBSCL tuần qua như sau: tại An Giang, lúa IR50404 không đổi ở mức 4.150 – 4.250 đ/kg (lúa ướt); lúa OM 2514, OM 2717 ổn định ở mức 4.500 đ/kg (lúa ướt). Tại Vĩnh Long, lúa IR50404 ổn định ở mức 3.950 đ/kg đối với lúa ướt và 4.800 đ/kg đối với lúa khô.
Tại Kiên Giang, lúa tẻ thường tăng nhẹ từ 5.100 đ/kg lên 5.200 đ/kg, lúa dài vẫn giữ ở mức 5.600 đ/kg. Thời điểm cuối tháng 7 đầu tháng 8/2015, giá gạo xuất khẩu đột ngột giảm trên phạm vi toàn cầu. Ngoại trừ Ấn Độ vẫn “giậm chân tại chỗ”, nhiều nước xuất khẩu gạo như Thái Lan, Việt Nam, Pa-kis-tan và Cam-pu-chia đang trong “cơn bão” giảm giá.

Vấn đề càng đáng lo hơn khi điều này rơi vào thời điểm ĐBSCL đang mùa thu hoạch vụ Hè Thu 2015 và giá gạo Việt Nam tiếp tục đứng ở mức thấp nhất thế giới, chất lượng gạo không cạnh tranh so với Thái Lan và Ấn Độ. Tuần qua, giá gạo 5% tấm chế biến từ lúa Hè Thu duy trì ở mức 340 – 345 USD/tấn (FOB Cảng Sài Gòn); gạo 25% tấm ở mức 325 – 335 USD/tấn.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), kết quả giao hàng từ ngày 01/7 đến ngày 23/7/2015 đạt 213.619 tấn, trị giá FOB đạt 81,122 triệu USD, trị giá CIF đạt 89,063 triệu USD. Tính từ ngày 01/1 đến ngày 23/7/2015 đạt 2,926 triệu tấn, trị giá FOB đạt 1,212 tỷ USD, trị giá CIF đạt 1,252 tỷ USD. 
BẢNG GIÁ GẠO XUẤT KHẨU MỚI NHẤT:

Mặt hàng
ĐVT
Giá (USD)
Cửa khẩu
Mã G.H
Gạo nếp VN 10% tấm xuất khẩu (LA) -bao 50kg; Kèm 104 bao rỗng cấp miễn phí; gía =442 USD/T/FOB- (1cont/ 26tan)&VN
TAN
442
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng VN 5% tấm xuất khẩu ( Kèm 172 bao rỗng cấp miễn phí) -ĐIỀU KIỆN GIAO HÀNG FOB &VN
TAN
350
PHAO SSV02
FOB
Gạo thơm thượng hạng số 9 - 05% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
481,5
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
Gạo trắng Việt Nam 5% tấm. Đóng đồng nhất trong bao PP đơn 50kg tịnh/bao. 0.2% bao rỗng miễn phí giao kèm theo hàng. Giao hàng bằng tàu&VN
TAN
356,33
UNKNOWN
FOB
Gạo HNT số 5_05% tấm (Jasmine). Đóng đồng nhất trong bao PP lồng PE, trọng lượng tịnh 50 kg/bao.&VN
TAN
578
CANG CAT LAI (HCM)
FOB
TẤM JASMINE VIỆT NAM ( TẤM ĐÓNG BAO 50KG)&VN
TAN
385
CANG MY THOI (AG)
FOB
Gạo Nàng Hoa Việt Nam 100% tấm. Hàng đóng đồng nhất trong bao PP 50Kg. Xuất kèm 2% bao rỗng dự phòng.&VN
TAN
380
CANG MY THOI (AG)
FOB

Thứ Tư, 16 tháng 8, 2017

Sản lượng lúa gạo Trung Quốc 2013-2014 ước đạt 1 triệu tấn

Theo USDA, việc tăng lượng gạo nhập khẩu dự báo của Trung Quốc trong năm 2013 và 2014 do sức mua mạnh, khi mà giá gạo châu Á đang ở mức thấp và mối quan tâm ngày càng tăng về sự an toàn của gạo được trồng ở một số vùng của Trung Quốc.


>> Tin cùng chuyên mục: Xuất khẩu rau củ vượt kỳ vọng



Sản lượng lúa gạo Trung Quốc 2013-2014 ước đạt 1 triệu tấn
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã hạ ước tính sản lượng gạo Trung Quốc 2013-2014 xuống 143 triệu tấn, giảm khoảng 1 triệu tấn so với ước tính trước đó và giảm khoảng 300 nghìn tấn so với 143,3 triệu tấn sản xuất trong năm trước đó do hạn hán. Tiêu thụ gạo của Trung Quốc trong 2013-2014 ước tính khoảng 147 triệu tấn.
Nếu sản lượng giảm như theo ước tính của USDA, đây sẽ là năm đầu tiên sản lượng lúa gạo Trung Quốc giảm kể từ năm 2003-2004.
Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc dự kiến đạt 3,2 triệu tấn năm 2013, tăng khoảng 200.000 tấn hay khoảng 6% so với ước tính trước đây, theo USDA. Năm 2014, con số này dự báo đạt khoảng 3,4 triệu tấn, tăng khoảng 400.000 hay 13% so với dự báo trước đó.
Bangladesh chấp thuận xuất khẩu hạt giống lúa lai
Chính phủ Bangladesh đã cho phép các công ty trong nước xuất khẩu 530 tấn hạt giống lúa lai thặng dư ra nước ngoài trong bối cảnh nhu cầu hạt giống loại này tại thị trường nội địa giảm.
Việc sử dụng giống lúa lai ở Bangladesh đã giúp nước này tự túc về gạo, nhưng nông dân thích trồng các giống lúa cao sản truyền thống do giá cao hơn. Theo các nguồn tin địa phương, sản lượng hạt giống lúa lai ở Bangladesh khoảng 9.000 tấn, trong khi nhu cầu chỉ khoảng 7.000 tấn.
Các công ty sản xuất hạt giống lúa lai ở Bangladesh cho biết mặc dù công nghệ sản xuất lúa lai là một phần vay mượn từ Trung Quốc, nhưng chi phí sản xuất ở Bangladesh thấp hơn. Hạt giống lúa lai có thể được xuất khẩu sang Indonesia, Việt Nam, Pakistan và các nước khác.
Tăng chi phí sản xuất có thể kiến giá gạo cao hơn trong tương lai
Trong tương lai, người nghèo trên thế giới có thể sẽ không đủ khả năng chi trả cho gạo và các chính phủ cần xây dựng chính sách xã hội để bảo vệ con người chống lại những cú sốc giá trong tương lai, theo Viện phát triển hải ngoại (ODI) vương quốc Anh.
Theo ODI, giá gạo giảm trong hơn 30 năm qua như một kết quả của cuộc cách mạng xanh trong những năm 1960 và 1970. Tuy nhiên, giá gạo đã tăng hơn 2 lần kể từ năm 2000, tăng gần 120% về giá trị thực. Giá gạo bình quân đạt khoảng 550 USD/tấn vào đầu năm 2013, gần gấp đôi năm 2000, và gạo đã trở thành loại ngũ cốc duy nhất mà giá không giảm xuống dưới mức đỉnh trước năm 2008.
ODI cho rằng giá gạo có thể không giảm trong tương lai và "gạo giá rẻ" có thể là một điều của quá khứ. Giá gạo duy trì ở mức cao do chi phí sản xuất lúa tăng trên cơ sở 3 yếu tố: dự trữ gạo của các nhà sản xuất gạo châu Á như Thái Lan và Việt Nam tăng, chi phí nhiên liệu, phân bón cao và tiền lương tăng đối với lao động nông nghiệp ở châu Á.